Đứng thứ 7 thế giới, Việt Nam cần hoàn thiện dữ liệu nghề cá
VBĐNV.vn - Trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản chịu áp lực ngày càng lớn từ khai thác và biến đổi khí hậu, dữ liệu khoa học là nền tảng cho quản trị nghề cá hiện đại.
Tại “Hội thảo quốc gia về tăng cường năng lực thực hiện nghĩa vụ CNM và lộ trình là thành viên chính thức của Ủy ban Nghề cá Trung và Tây Thái Bình Dương (WCPFC)” ngày 28/7, Tiến sĩ Graham Pilling - Giám đốc Chương trình Nghề cá Đại dương, Cộng đồng Thái Bình Dương (SPC) - đã trình bày về trách nhiệm của Việt Nam đối với khai thác thủy sản bền vững.
Để chính thức gia nhập WCPFC, Việt Nam cần tiếp tục tăng cường tuân thủ quy định, nâng cao hiệu quả giám sát và chuẩn hóa quy trình thu thập dữ liệu.
Yêu cầu của WCPFC
Theo báo cáo từ Cộng đồng Thái Bình Dương (SPC) - cơ quan cố vấn khoa học cho Ủy ban Nghề cá Trung và Tây Thái Bình Dương (WCPFC), sản lượng khai thác thủy sản biển thế giới giai đoạn 2022-2024 tập trung vào các nhóm loài chính bao gồm cá đáy, cá nổi khác, cá và động vật thủy sản khác, đặc biệt là nhóm cá ngừ, cá ngừ chù và cá cờ.
Trong danh sách 10 quốc gia sản xuất lớn nhất năm 2024, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 7 với tỷ lệ đóng góp tích lũy đạt 51%, xếp sau Trung Quốc, Indonesia, Peru, Liên bang Nga, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Ấn Độ và đứng trên Nhật Bản, Na Uy, Chile.
Báo cáo năm 2026 của FAO về "Tình trạng Nghề cá và Nuôi trồng Thủy sản thế giới" đã nhấn mạnh mục tiêu chiến lược "Chuyển đổi Xanh - Biến tầm nhìn thành hành động". Nhằm hướng tới phát triển bền vững, việc đánh giá trữ lượng các loài cá ngừ như cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to và cá ngừ vằn dựa trên phân bố sản lượng khai thác theo từng loại ngư cụ (lưới rê hoặc lưới câu giăng, cần câu, lưới vây, kéo dây) giữ vai trò then chốt.
Ủy ban Nghề cá Trung và Tây Thái Bình Dương quy định rõ trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việc giám sát và báo cáo nghề khai thác cá ngừ thông qua 2 trụ cột chính: thu thập dữ liệu khoa học và báo cáo tuân thủ.
Đối với trụ cột dữ liệu khoa học, các thành viên bắt buộc phải thực hiện ước tính sản lượng khai thác hằng năm. Mức ước tính sản lượng trong từng năm dương lịch phải được cung cấp chi tiết theo từng loại ngư cụ đối với các loài cá ngừ mắt to (Thunnus obesus), cá ngừ vằn (Katsuwonus pelamis), cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares), cá cờ gòn (Makaira mazara), cá cờ đen (Makaira indica), cá cờ chóp (Tetrapturus angustirostris) và cá cờ sao (Istiophorus platypterus) tại khu vực thống kê WCPFC cũng như phần khu vực thống kê WCPFC nằm phía đông kinh tuyến 150° Tây.
Xét về mức độ đáp ứng dữ liệu của Việt Nam giai đoạn 2021-2025, thực trạng cho thấy sự đan xen giữa những mặt đạt được và các khoảng trống cần khắc phục.
Dữ liệu về kích thước duy trì ổn định ở mức độ thu thập cao từ 75-100% xuyên suốt giai đoạn. Tương tự, chỉ số ước tính sản lượng hàng năm (ACE) đạt mức phủ tối đa 100%, trong khi dữ liệu tổng hợp sau thời gian dài ở mức thấp trong giai đoạn 2021–2024 đã bứt phá đạt mức phủ cao vào năm 2025.
Trái lại, mức độ phủ của lực lượng quan sát viên vẫn ở mức rất thấp (0%), và dữ liệu hoạt động chỉ dừng lại ở mức trung bình - thấp, trong khoảng 25-50%.
Thách thức dữ liệu và cơ hội bứt phá
Từ thực tế trên, Tiến sĩ Graham Pilling, Giám đốc Chương trình Nghề cá Đại dương, Cộng đồng Thái Bình Dương (SPC) đã chỉ ra các khoảng trống dữ liệu cùng thách thức lớn mà Việt Nam đang đối mặt.
Theo đó, mức độ phủ nhật ký khai thác còn thấp, mức độ phủ của lực lượng quan sát viên thấp, mẫu thu thập thành phần kích thước còn hạn chế; sự khó khăn trong ước tính tổng sản lượng khai thác do thiếu hụt dữ liệu nỗ lực khai thác, cùng khả năng giám sát tác động hệ sinh thái bị hạn chế do tỷ lệ báo cáo đánh bắt phụ hoặc không mong muốn còn thấp.
Mặc dù vậy, việc từng bước khắc phục các khoảng trống này sẽ mở ra nhiều cơ hội quan trọng cho thủy sản Việt Nam. Trước hết, dữ liệu hoàn thiện sẽ hỗ trợ đắc lực cho chứng nhận, kiểm toán MSC và các dự án cải thiện nghề cá (FIPs), qua đó đảm bảo các điều kiện cần thiết để truy cập thị trường quốc tế. Việc nâng cao chất lượng dữ liệu còn giúp giảm thiểu độ không chắc chắn trong các mô hình đánh giá trữ lượng ở cả cấp quốc gia và khu vực.
Bên cạnh đó, việc tăng cường chia sẻ dữ liệu giữa các tỉnh sẽ giúp ước tính sản lượng và nỗ lực khai thác được cải thiện đáng kể. Tích hợp hệ thống dữ liệu đóng vai trò gia tăng hiệu quả và cải thiện công tác nộp dữ liệu, trong khi việc cải thiện giám sát tại cảng sẽ giúp xác minh chính xác sản lượng khai thác và thu thập dữ liệu kích thước.
Cuối cùng, việc tham gia vào các cơ hội phát triển hoặc trao đổi năng lực sẽ giúp nâng cao năng lực phân tích, tạo tiền đề để cải thiện hiệu quả quản lý và công tác báo cáo dữ liệu trong thời gian tới.
Việc thu thập đầy đủ thông tin về sản lượng, nỗ lực khai thác, kích thước cá, ngư cụ, ngư trường và hoạt động của tàu cá giúp xác định các biện pháp bảo tồn và phòng ngừa khai thác quá mức. Đối với các loài cá di cư xa như cá ngừ, dữ liệu từ từng quốc gia còn là cơ sở để các tổ chức quản lý nghề cá khu vực bảo đảm khai thác bền vững và công bằng giữa các nước thành viên.
Kim Sơ (nongnghiepmoitruong.vn)
Ý kiến bạn đọc
Tên của bạn
Địa chỉ email
Nội dung bình luận