Nghị quyết 20 mở đường hình thành các trung tâm kinh tế biển
- Xử lý nghiêm vi phạm pháp luật trên biển
- Xây dựng quốc gia biển mạnh: [Bài cuối] Quản lý thống nhất, hiện đại, bền vững
- Xây dựng quốc gia biển mạnh: [Bài 3] Khơi thông nguồn lực, tạo động lực mới
- Xây dựng quốc gia biển mạnh: [Bài 2] Khai thác 'mỏ vàng' điện gió ngoài khơi
- Xây dựng quốc gia biển mạnh: [Bài 1] Đánh thức biển bằng thể chế, công nghệ
- Để tiến ra biển lớn, phải có khoa học công nghệ dẫn dắt
VBĐVN.vn - Nghị quyết 20-NQ/TW tạo nền tảng để Việt Nam hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh, tạo cực tăng trưởng mới và nâng cao vị thế quốc gia biển.
Biển không chỉ là nguồn tài nguyên, không gian phát triển kinh tế, mà còn là không gian chiến lược của quốc gia. Đây là tư duy xuyên suốt trong Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Tầm nhìn của Nghị quyết đặt biển trong mối quan hệ chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, phát triển khoa học-công nghệ và gìn giữ, bảo tồn văn hóa.
Từ đó, yêu cầu đặt ra là xây dựng nền quản trị biển hiện đại, thống nhất, đồng bộ, liên ngành, dựa trên khoa học, công nghệ và dữ liệu. Đây là cơ sở nâng cao hiệu quả quản lý tổng hợp không gian biển quốc gia.
Nghị quyết 20-NQ/TW có ba điểm mới đáng chú ý. Thứ nhất, chuyển từ tư duy “phát triển kinh tế biển” sang “xây dựng quốc gia biển mạnh”, từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại. Biển được nhìn nhận không chỉ là nơi khai thác tài nguyên, phát triển kinh tế mà còn là không gian chiến lược tổng hợp.
Thứ hai, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định là động lực chính. Đây là nền tảng để Việt Nam nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, quản trị biển; làm chủ công nghệ khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và phát triển các ngành kinh tế biển mới.
Thứ ba, Nghị quyết đặt mục tiêu nâng cao vai trò của Việt Nam trong các cơ chế hợp tác, quản trị biển và đại dương ở khu vực và toàn cầu.
Điều này không chỉ phục vụ mục tiêu bảo vệ chủ quyền, khai thác hiệu quả biển Việt Nam, mà còn góp phần nâng cao vị thế, uy tín và vai trò của Việt Nam trong hợp tác quốc tế về biển. Qua đó, Việt Nam có điều kiện chủ động hơn trong thực hiện Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), Hiệp định BBNJ và tham gia xây dựng các chuẩn mực, luật lệ quốc tế về biển.
Tạo các cực tăng trưởng biển
Một trong những định hướng quan trọng của Nghị quyết 20-NQ/TW là hình thành 5-6 trung tâm kinh tế biển mạnh, mang tầm khu vực và quốc tế.
Mục tiêu này có hai ý nghĩa. Trước hết, hình thành các cực tăng trưởng biển, thay cho cách phát triển dàn trải. Tập trung nguồn lực vào 5-6 trung tâm có khả năng tạo ra những đầu tàu kinh tế biển, có sức lan tỏa tới các địa phương ven biển và vùng nội địa phía sau. Qua đó, khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, cạnh tranh cục bộ giữa các địa phương.
Mặt khác, mô hình trung tâm kinh tế biển tạo điều kiện phân công chức năng dựa trên lợi thế từng vùng. Khu vực có thể tập trung phát triển cảng biển-logistics; nơi khác phát triển công nghiệp biển, du lịch, thủy sản, năng lượng tái tạo ngoài khơi hoặc khoa học-công nghệ biển.
Muốn các trung tâm phát huy hiệu quả, bài toán đầu tiên là nguồn lực. Không thể chỉ trông vào ngân sách nhà nước. Cần huy động mạnh vốn xã hội hóa, vốn tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài.
Quy hoạch cũng phải đi trước một bước. Quy hoạch quốc gia, quy hoạch không gian biển, quy hoạch vùng bờ và quy hoạch địa phương cần được kết nối chặt chẽ. Đây là cơ sở xử lý các xung đột trong sử dụng không gian biển giữa cảng biển, du lịch, thủy sản, năng lượng và quốc phòng, an ninh; đồng thời hạn chế cạnh tranh thiếu điều phối giữa các địa phương.
Cùng với quy hoạch là hạ tầng kết nối. Các cảng nước sâu phải được kết nối hiệu quả với đường bộ, đường sắt, hàng không và logistics. Các địa phương cũng phải được kết nối trong một mạng lưới thống nhất, thay vì phát triển những hệ thống hạ tầng riêng lẻ.
Nghị quyết 20-NQ/TW đồng thời định hướng xây dựng 3 khu kinh tế biển đặc biệt với thể chế, chính sách vượt trội. Đây phải là những khu vực có sức cạnh tranh quốc tế, thu hút nhà đầu tư chiến lược và tạo thêm cực tăng trưởng cho nền kinh tế.
Để làm được điều đó, cần chính sách ưu đãi có chọn lọc. Ưu tiên các nhà đầu tư mang theo công nghệ cao, nguồn vốn lớn, mạng lưới thị trường quốc tế, trung tâm nghiên cứu và phát triển, năng lực đào tạo nhân lực và khả năng hình thành chuỗi cung ứng trong nước.
Có thể áp dụng chính sách ưu đãi mạnh đối với các dự án chiến lược, nhưng phải gắn với cam kết chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp Việt Nam.
Cùng với đó là cơ chế một cửa, thủ tục thông thoáng, minh bạch và số hóa. Các thủ tục đầu tư, sử dụng không gian biển cần được thực hiện qua một đầu mối, với quy trình rõ ràng, nhanh chóng.
Các khu kinh tế biển đặc biệt cũng cần thể chế vượt trội, ổn định, có sức cạnh tranh, trao quyền tự chủ phù hợp về đầu tư, giao đất, thuế quan, lao động... để thu hút và giữ chân các nguồn lực chất lượng cao.
Liên kết để hình thành hệ sinh thái biển
Các trung tâm kinh tế biển và khu kinh tế biển đặc biệt không thể phát triển biệt lập. Cần đặt các trung tâm trong một hệ sinh thái gồm cảng biển, logistics, đô thị ven biển, năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới.
Trước hết, các khu kinh tế đặc biệt cần gắn với cảng nước sâu và các ngành công nghiệp có khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu như đóng tàu, sửa chữa tàu, công nghiệp phụ trợ, chế biến sâu, thiết bị hàng hải và công nghiệp công nghệ cao.
Các đô thị ven biển phải phát triển đồng bộ với trung tâm kinh tế biển. Đây là nơi cung cấp nhân lực chất lượng cao, dịch vụ tài chính, giáo dục, y tế, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Cùng với các ngành kinh tế truyền thống, cần hình thành không gian cho những ngành mới như nuôi biển công nghệ cao, công nghệ sinh học biển, kinh tế số biển, dữ liệu đại dương, phương tiện tự hành trên biển, dịch vụ nghiên cứu biển và công nghệ năng lượng biển.
Các trung tâm kinh tế biển cần đồng thời là trung tâm đổi mới sáng tạo biển, nơi doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học cùng phát triển công nghệ.
Một hướng quan trọng khác là gắn các trung tâm với năng lượng tái tạo ngoài khơi. Cùng với phát triển nguồn điện, cần hình thành cảng và các ngành công nghiệp phục vụ chuỗi cung ứng năng lượng tái tạo.
Để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 20-NQ/TW, cần tạo đột phá trên ba phương diện. Một là cơ chế huy động nguồn lực trong nước. Cần chuyển mạnh từ đầu tư công đơn thuần sang xã hội hóa, huy động vốn tư nhân và đối tác công-tư (PPP). Đồng thời, cần cơ chế chia sẻ rủi ro và bảo đảm lợi ích đủ hấp dẫn để thu hút nhà đầu tư dài hạn.
Hai là thu hút vốn và công nghệ quốc tế. Việt Nam cần chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang lựa chọn nhà đầu tư chiến lược; ưu tiên công nghệ biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi, công nghiệp xanh, công nghệ sinh học biển và kinh tế số. Chính sách ưu đãi phải gắn với chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và liên kết với doanh nghiệp Việt Nam.
Ba là đột phá về thể chế và quản trị biển. Pháp luật cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển; phân định rõ thẩm quyền, giảm chồng chéo và xây dựng cơ chế điều phối liên ngành đủ mạnh.
Đồng thời, cần trao quyền chủ động phù hợp cho các trung tâm kinh tế biển để phát huy lợi thế, nhưng vẫn bảo đảm quản lý thống nhất không gian biển quốc gia.
Trong quá trình này, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của những quốc gia có nền kinh tế biển phát triển như Hàn Quốc, Singapore, Hà Lan và Trung Quốc. Mỗi trung tâm có thể đảm nhận chức năng chuyên biệt như logistics quốc tế, công nghiệp biển, năng lượng ngoài khơi, du lịch biển, kinh tế thủy sản hoặc công nghệ biển, sau đó liên kết thành mạng lưới kinh tế biển quốc gia.
Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cũng đặt ra những cảnh báo. Không nên để các trung tâm trở thành nơi cạnh tranh giữa các địa phương. Nếu địa phương nào cũng muốn có cảng nước sâu, khu kinh tế, khu công nghiệp và trung tâm logistics riêng, nguy cơ trùng lặp chức năng, dư thừa công suất và lãng phí nguồn lực là rất lớn.
Không đánh đổi môi trường biển lấy tăng trưởng. Chi phí xử lý ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái sau suy thoái thường rất lớn. Vì vậy, các trung tâm kinh tế biển phải được thiết kế ngay từ đầu theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và có khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Cũng không nên sao chép nguyên mẫu mô hình nước ngoài. Điều kiện địa lý, thể chế và quy mô thị trường của Singapore, Hàn Quốc, Hà Lan hay Trung Quốc khác Việt Nam. Điều cần thiết là chọn lọc những yếu tố phù hợp, gắn với lợi thế từng vùng để hình thành cấu trúc riêng của Việt Nam.
Nếu được triển khai đồng bộ, 5-6 trung tâm kinh tế biển mạnh và 3 khu kinh tế biển đặc biệt sẽ tạo ra những cực tăng trưởng mới, góp phần tái cấu trúc không gian kinh tế quốc gia.
Các trung tâm sẽ thúc đẩy phát triển đô thị ven biển, công nghiệp, dịch vụ, hạ tầng và các địa phương trong vùng hậu phương. Đồng thời, đây có thể trở thành điểm đến của các tập đoàn đa quốc gia, thu hút FDI chất lượng cao, trung tâm nghiên cứu và phát triển, công nghệ biển và nguồn nhân lực quốc tế.
Quan trọng hơn, khi sở hữu các trung tâm cảng biển, logistics, công nghiệp và dịch vụ biển có tầm quốc tế, Việt Nam không chỉ nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế mà còn gia tăng vị thế địa kinh tế và địa chiến lược.
Đó cũng là nền tảng để Việt Nam khẳng định vai trò của một quốc gia biển mạnh, có năng lực kết nối, chủ động tham gia và đóng góp vào quản trị biển, đại dương ở khu vực và toàn cầu.
Khu kinh tế biển - nhìn ra thế giới
Tại Hàn Quốc đã thành lập Khu kinh tế tự do Incheon năm 2003 như một hộp cát (sandbox) để chính phủ thử nghiệm các chính sách kinh tế cởi mở nhằm tạo lợi thế cạnh tranh trên toàn cầu. Đặc biệt, cơ chế dịch vụ một cửa “one-stop service” được coi một cải cách đột phá, cho phép nhà đầu tư hoàn thành toàn bộ thủ tục hành chính, từ cấp phép, đăng ký kinh doanh đến các vấn đề liên quan đất đai, qua một đầu mối duy nhất.
Singapore đã thiết lập 9 khu thương mại tự do trên toàn lãnh thổ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc trung chuyển hàng hóa đến và đi từ đảo quốc. Tại các khu vực này, chính phủ cho phép nhập khẩu, bán hoặc xuất khẩu hàng hóa mà không phải chịu thuế hải quan, thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế hàng hóa và dịch vụ.
Trong khi đó Hà Lan có mô hình quản lý cảng Rotterdam, cảng biển lớn nhất Châu Âu. Cảng được vận hành dưới sự quản lý của một doanh nghiệp công; đồng thời có sự tham gia của khu vực tư nhân trong phát triển cơ sở hạ tầng và quản lý, khai thác các hạng mục cảng. Cơ quan quản lý cảng tập trung vào quản lý đất đai, quy hoạch và cơ sở hạ tầng, trong khi doanh nghiệp tư nhân được tham gia đầu tư, khai thác các khu chức năng và dịch vụ hậu cần. Cơ chế này không chỉ góp phần tạo việc làm, thúc đẩy hoạt động logistics mà còn nâng cao hiệu quả khai thác và năng lực cạnh tranh của cảng.
Gần đây nhất, từ tháng 12 năm 2025, Trung Quốc chính thức đưa vào vận hành Cảng thương mại tự do Hải Nam với các chính sách vượt trội về thuế quan, nhập cảnh, đầu tư, giáo dục, khoa học-công nghệ và thu hút nhân lực nước ngoài nhằm biến hòn đảo hơn 30 nghìn cây số vuông này thành cửa ngõ kết nối nước này với thế giới.
Như vậy, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, để phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh, Việt Nam cần xây dựng một hệ sinh thái thể chế và hạ tầng có tính cạnh tranh. Trọng tâm là thiết lập cơ chế quản lý linh hoạt, thủ tục hành chính một cửa, chính sách thuế và đầu tư đủ hấp dẫn. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong đầu tư, khai thác hạ tầng, trong khi Nhà nước tập trung vào quy hoạch, đất đai và kiến tạo thể chế.
TS. Vũ Hải Đăng
Viện Biển Đông (Học viện Ngoại giao)
Ý kiến bạn đọc
Tên của bạn
Địa chỉ email
Nội dung bình luận