Viễn thám và dữ liệu biển: Đôi mắt số quản lý tài nguyên

15:13 24-10-2026

VBĐVN.vn - Từ ảnh vệ tinh đến dữ liệu biển, công nghệ số đang mở rộng khả năng quan sát, giám sát tài nguyên, môi trường, hỗ trợ quản trị không gian biển.

Trong quản lý nông nghiệp, môi trường, điều quan trọng không chỉ là có dữ liệu, mà còn phải nhìn thấy được sự biến động của tài nguyên theo không gian và thời gian. Với khả năng quan sát diện rộng, cập nhật thường xuyên, viễn thám đang trở thành “đôi mắt” từ không gian; trong khi dữ liệu biển, hải đảo tạo nên lớp thông tin chiến lược để quản lý tổng hợp vùng bờ và không gian biển.

Hệ thống thông tin khai thác và sử dụng tài nguyên biển đã cập nhật khoảng hơn 1.400 hồ sơ giao khu vực biển. Ảnh: Trường Giang.

Dự án “Xây dựng, hoàn thiện Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường (giai đoạn I)” (theo Quyết định số 1315/QĐ-BTNMT) đặt ra yêu cầu hoàn thiện 14 cơ sở dữ liệu biển và nhiều cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin viễn thám. Đến nay cơ bản đã đạt mục tiêu.

Nhìn Trái đất từ không gian

Đến nay, lĩnh vực viễn thám đã hoàn thành cơ sở dữ liệu về ảnh vệ tinh độ phân giải cao; ảnh radar, ảnh quang học; Dữ liệu biến động bề mặt đất, rừng, mặt nước; Giám sát sử dụng đất, biến đổi đường bờ. Đây là nguồn dữ liệu quan trọng phục vụ theo dõi hiện trạng, giám sát biến động sử dụng đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước, môi trường và các khu vực có nguy cơ xảy ra thiên tai. Nhờ khả năng quan sát trên phạm vi rộng, cập nhật thường xuyên và theo dõi biến động theo thời gian, dữ liệu viễn thám giúp giảm chi phí, thời gian điều tra thực địa; đồng thời cung cấp thông tin nhanh chóng, khách quan và tương đối chính xác.

Lĩnh vực viễn thám đã hoàn thành xây dựng nhiều cơ sở dữ liệu quan trọng. Ảnh: Nguyễn Thuỷ.

Việc tích hợp dữ liệu viễn thám với hệ thống thông tin địa lý và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành còn hỗ trợ cơ quan quản lý phát hiện sớm biến động, đánh giá xu hướng và đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu.

Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu viễn thám góp phần tăng tính công khai, minh bạch trong quản lý tài nguyên và môi trường; tạo căn cứ kiểm tra, đối chiếu hiện trạng; hạn chế tình trạng báo cáo thiếu thống nhất giữa các cấp. Khi được chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ đồng bộ, nguồn dữ liệu này còn giúp tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương, tránh điều tra trùng lặp, tiết kiệm nguồn lực và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

Theo ông Trần Tuấn Ngọc, Cục trưởng Cục Viễn thám quốc gia, viễn thám đang từng bước trở thành hạ tầng dữ liệu nền cho nhiều lĩnh vực. Giá trị của công nghệ không chỉ nằm ở việc “nhìn thấy” mà quan trọng hơn là biến những hình ảnh thu nhận từ không gian thành thông tin phục vụ quyết định quản lý.

Trong nông nghiệp, chẳng hạn, các chỉ số thực vật như NDVI có thể giúp đánh giá sức khỏe cây trồng, theo dõi sinh trưởng, hỗ trợ dự báo năng suất. Tại những khu vực thường xuyên chịu tác động của hạn hán, xâm nhập mặn, ngập lụt, dữ liệu viễn thám cung cấp thêm một lớp thông tin quan trọng để cơ quan chuyên môn và người sản xuất chủ động ứng phó.

Với vùng ven biển, khả năng theo dõi biến động đường bờ có ý nghĩa đặc biệt. Xói lở, bồi tụ diễn ra liên tục và không tuân theo ranh giới hành chính. Nếu chỉ dựa vào những đợt khảo sát thực địa, việc cập nhật sẽ mất nhiều thời gian và nguồn lực. Dữ liệu vệ tinh cho phép theo dõi diễn biến trên phạm vi rộng, từ đó khoanh vùng những khu vực biến động mạnh để tổ chức kiểm tra, đánh giá chuyên sâu.

Đây cũng là lý do cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia được đặt trong tổng thể xây dựng hạ tầng dữ liệu tài nguyên và môi trường. Dữ liệu không chỉ gồm ảnh vệ tinh gốc mà còn có siêu dữ liệu, dữ liệu đã xử lý và các sản phẩm chuyên đề phục vụ giám sát tài nguyên, môi trường và thiên tai.

Theo bà Đặng Thị Liên, Giám đốc Đài Viễn thám quốc gia (Cục Viễn thám quốc gia), hiện nay, cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia lưu trữ khoảng 1.000 ảnh viễn thám từ 19 đầu thu vệ tinh và 13.942 bình đồ ảnh ở 7 mức tỷ lệ, từ 1/5.000 đến 1/1 triệu. Đây là nguồn dữ liệu đa nguồn, đa độ phân giải, đa thời gian, có giá trị lâu dài trong giám sát lãnh thổ và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia là một thành phần quan trọng của hạ tầng dữ liệu số quốc gia, cung cấp thông tin không gian khách quan, thống nhất, phục vụ nhiều ngành, lĩnh vực như đất đai, nông nghiệp, lâm nghiệp, tài nguyên nước, môi trường, quy hoạch, phòng chống thiên tai và ứng phó biến đổi khí hậu.

Đồng thời, dữ liệu viễn thám góp phần đổi mới phương thức quản lý nhà nước, chuyển từ dựa chủ yếu vào báo cáo, điều tra định kỳ sang giám sát, đánh giá và ra quyết định dựa trên dữ liệu số. Việc kết hợp dữ liệu viễn thám với trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và công nghệ phân tích không gian còn cho phép tự động nhận dạng cây trồng, diện tích rừng, công trình xây dựng, phát hiện biến động bề mặt, theo dõi đô thị hóa, hạn hán và sạt lở bờ biển.

Thời gian tới, cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia sẽ tập trung chuẩn hóa, nâng cao chất lượng, cập nhật thường xuyên, tăng cường kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành, đồng thời phát triển các công cụ khai thác, dịch vụ dữ liệu trực tuyến. Mục tiêu là xây dựng nguồn dữ liệu đúng, đủ, sạch, thống nhất, dùng chung, chuyển từ lưu trữ, cung cấp ảnh sang cung cấp thông tin và tri thức có giá trị gia tăng, góp phần hiện đại hóa quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Dữ liệu biển tạo nền quản trị mới

Nếu viễn thám giúp mở rộng “tầm nhìn” từ không gian, dữ liệu biển và hải đảo lại tạo nên một hệ thống thông tin chuyên sâu về một không gian có ý nghĩa đặc biệt đối với phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Theo Quyết định 1315/QĐ-BTNMT, hệ thống dữ liệu biển và hải đảo được định hướng xây dựng với phạm vi rộng, gồm dữ liệu địa hình đáy biển; ranh giới biển; khí tượng, hải văn; địa chất, khoáng sản biển; dầu khí; môi trường biển; tài nguyên đất ven biển và hải đảo; tài nguyên nước vùng ven biển và đảo; ảnh vệ tinh phục vụ quan trắc, giám sát tài nguyên và môi trường biển; đa dạng sinh học, nguồn lợi thủy sản; quy hoạch không gian biển; hệ thống cửa sông, đê biển; dữ liệu kinh tế - xã hội, thiên tai, giao thông vận tải biển và các chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ biển. Như vậy, dữ liệu biển không còn được nhìn nhận như những bộ dữ liệu riêng lẻ của từng ngành, mà hướng tới một hệ thống thông tin tổng hợp về không gian biển.

Ông Võ Xuân Hùng, Giám đốc Trung tâm Thông tin, dữ liệu biển và hải đảo quốc gia, cho biết các cơ sở dữ liệu được xây dựng và hoàn thiện sẽ hỗ trợ thiết thực công tác quản lý nhà nước. Một trong những kết quả cụ thể được ông Hùng đề cập là Hệ thống thông tin khai thác và sử dụng tài nguyên biển đã được đưa vào vận hành.

Đây là hệ thống kết nối quốc gia đầu tiên trong lĩnh vực này, được vận hành từ Trung ương đến địa phương. Đến nay, hệ thống đã cập nhật khoảng hơn 1.400 hồ sơ giao khu vực biển và cấp khoảng 4.000 tài khoản đến cấp xã.

Việc hình thành hệ thống thống nhất trên toàn quốc giúp tạo lập một nguồn dữ liệu dùng chung về giao khu vực biển, phục vụ trực tiếp công tác quản lý, khai thác tài nguyên biển và phát triển kinh tế-xã hội.

Theo ông Hùng, trước đây, để phục vụ công tác quản lý, cơ quan nhà nước có thể phải tổng hợp số liệu từ các địa phương. Khi hệ thống được kết nối và vận hành thống nhất, dữ liệu có thể được cung cấp, khai thác ngay, qua đó rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao hiệu quả quản lý.

Đặc biệt, khi thực hiện giao khu vực biển, cơ quan quản lý có thể khai thác nhiều lớp thông tin để đánh giá sự phù hợp của khu vực dự kiến giao. Dữ liệu về giao khu vực biển có thể được đối chiếu với quy hoạch không gian biển, quy hoạch của các bộ, ngành và các nguồn dữ liệu liên quan.

Điều này giúp các quyết định giao khu vực biển có thêm cơ sở dữ liệu để xem xét, đồng thời hạn chế sự chồng lấn trong khai thác, sử dụng không gian biển.

Những kết quả này cho thấy dữ liệu biển và viễn thám đang chuyển dần từ những kho dữ liệu chuyên ngành sang nền tảng phục vụ khai thác dùng chung.

Tuy nhiên, để “đôi mắt số” thực sự phát huy hiệu quả, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới là tiếp tục xây dựng dữ liệu, chuẩn hóa dữ liệu, hoàn thiện kiến trúc và quản trị dữ liệu, nâng cấp hạ tầng lưu trữ và xử lý dữ liệu lớn, đồng thời mở rộng kết nối giữa các bộ, ngành, địa phương để sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững kinh tế biển.

Trường Giang (nongnghiepmoitruong.vn)

Ý kiến bạn đọc

  • Tên của bạn

    Địa chỉ email

  • Nội dung bình luận

Tin cùng chuyên mục


Lên đầu trang